Logo trái

The Intersection of New Creative Elements

Một chiến lược giám tuyển mang tính kiến tạo của Julia SchäferA Constructivist Curatorial Strategy by Julia Schäfer

12/19/2022

Bài viết phản hồi của Út Quyên trước bải giảng Blau machen của Julia Schäfer, giám tuyển tại Bảo tàng nghệ thuật Đương đại Leipzig, Đức, thực hiện trong MAP 2020 với chủ đề dự án XANH vào ngày 23/10.

 

A writing by Út Quyên responding to Blau machen lecture by Julia Schäfer, curator at the Museum of Contemporary Art Leipzig, Germany, delivered in MAP 2020 under the theme BLUE project on October 23. 

 

Trong một chương sách có tựa đề Bảo tàng Kiến tạo, George E. Hein đã lý thuyết hóa hai khái niệm quan trọng mà một bảo tàng kiến tạo nên được xây dựng dựa trên: (1) “người xem xây dựng kiến thức cá nhân từ triển lãm” và (2) “bản thân quá trình thu nhận kiến thức là một hành động mang tính kiến tạo” (Hein, trang 76). Tuy nhiên, chương sách này không đưa ra ví dụ rõ ràng nào về một bảo tàng kiến tạo, mặc dù tác giả tuyên bố rằng “bảo tàng kiến tạo được xem là cách tiếp cận phù hợp nhất hiện nay”. Ý tưởng về bảo tàng kiến tạo của Hein khiến tôi vô cùng hứng thú, và trong nỗ lực tìm kiếm một ví dụ mà văn bản của ông còn thiếu, tôi đã tìm hiểu về Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Leipzig (GfZK) và nhận ra đây là một mô hình hoàn hảo cho khái niệm bảo tàng kiến tạo.

 

Kể từ khi Julia Schäfer bắt đầu làm việc với vai trò giám tuyển và người trung gian nghệ thuật tại GfZK vào năm 2001, bà đã tạo ra các dự án luôn xoay quanh ý tưởng thúc đẩy việc học tập mang tính kiến tạo cho người học. Với nền tảng trong giáo dục nghệ thuật và kinh nghiệm làm giám tuyển cũng như trung gian nghệ thuật trong suốt 20 năm qua (2001–2021), Julia Schäfer đã kết hợp hai vai trò này để triển khai những dự án mang tính đột phá, xóa mờ ranh giới giữa thực hành giám tuyển bảo tàng và thực hành giáo dục bảo tàng.Trong phần tiếp theo, tôi sử dụng lý thuyết về bảo tàng kiến tạo của Hein để phân tích một số dự án mà Julia Schäfer đã thực hiện tại GfZK, qua đó làm rõ cách bà phá vỡ trật tự thứ bậc giữa vai trò của giám tuyển và giáo dục viên nghệ thuật trong bảo tàng, tạo ra không gian cho sự kết hợp hài hòa giữa triển lãm nghệ thuật đương đại và các chương trình giáo dục nghệ thuật dành cho công chúng. Từ nghiên cứu này, tôi cũng mong muốn rút ra những bài học có thể áp dụng vào các hoạt động của các không gian nghệ thuật đương đại độc lập tại Việt Nam, nơi còn thiếu một hệ thống chính quy và sự hỗ trợ từ Nhà nước dành cho giáo dục nghệ thuật đương đại cũng như các bảo tàng nghệ thuật đương đại.

 

Trong phần tiếp theo, tôi sử dụng lý thuyết về bảo tàng kiến tạo của Hein để phân tích một số dự án mà Julia Schäfer đã thực hiện tại GfZK, qua đó làm rõ cách bà phá vỡ trật tự thứ bậc giữa vai trò của giám tuyển và giáo dục viên nghệ thuật trong bảo tàng, tạo ra không gian cho sự kết hợp hài hòa giữa triển lãm nghệ thuật đương đại và các chương trình giáo dục nghệ thuật dành cho công chúng. Từ nghiên cứu này, tôi cũng mong muốn rút ra những bài học có thể áp dụng vào các hoạt động của các không gian nghệ thuật đương đại độc lập tại Việt Nam, nơi còn thiếu một hệ thống chính quy và sự hỗ trợ từ Nhà nước dành cho giáo dục nghệ thuật đương đại cũng như các bảo tàng nghệ thuật đương đại.

 

Một bảo tàng kiến tạo từ kiến trúc

 

Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Leipzig (GfZK) nằm tại Leipzig, một thành phố nhỏ ở phía Đông nước Đức (trên lãnh thổ của Cộng hòa Dân chủ Đức trước đây) với khoảng 560.000 dân. Bảo tàng được thành lập năm 1992 bởi các nhà sử học nghệ thuật GDR Klaus Werner và Arend Oetker, chính thức mở cửa cho công chúng vào năm 1998. Bảo tàng bao gồm ba tòa nhà.

 

Tòa nhà đầu tiên là một biệt thự lộng lẫy được xây dựng năm 1892 bởi các kiến trúc sư Carl Weichardt và Bruno Eelbo như một dinh thự tư nhân rộng 800 mét vuông. Biệt thự này đã được kiến trúc sư Peter Kulka chuyển đổi thành bảo tàng trong giai đoạn 1996–1998.

Leipzig-1.png

Hình 1. Biệt thự lộng lẫy với khách sạn trên tầng trên cùng (trái) và sơ đồ mặt bằng

 

Mặt bằng của biệt thự lộng lẫy khá thách thức đối với một bảo tàng nghệ thuật đương đại vì nó có các phòng riêng biệt cố định với nhiều cửa sổ. Để xử lý không gian này, bảo tàng đã đưa ra một mô hình vận hành bao gồm: hai căn hộ khách sạn, một quán cà phê được thiết kế bởi nghệ sĩ, một thư viện, và một phòng giáo dục. Ý tưởng có quán cà phê và thư viện để thu hút công chúng vào bảo tàng đã được áp dụng ở nhiều bảo tàng trên thế giới. Tuy nhiên, việc tích hợp một khách sạn vào bảo tàng là một ý tưởng khá sáng tạo.

 

Căn hộ khách sạn cao cấp trên tầng trên cùng của biệt thự, được thiết kế bởi hai nghệ sĩ Thụy Sĩ Sabina Lang và Daniel Baumann, cho phép bất kỳ ai lưu trú với giá 200 euro mỗi đêm. Đôi khi, người ta có thể chỉ biết đến bảo tàng qua việc lưu trú tại khách sạn, thay vì đến thăm triển lãm. Nhưng bằng cách ở lại bảo tàng vì bất kỳ mục đích nào, họ đều tham gia vào các hoạt động của bảo tàng theo những cách khác nhau.

Leipzig-2.png
Hình 2. Mặt trước của Tòa nhà Neubau
 

Tòa nhà thứ hai, Neubau, được mở cửa vào năm 2004, bổ sung thêm 1.000 mét vuông không gian triển lãm cho tổ hợp của GfZK. Hầu hết các bức tường của tòa nhà này được phủ bằng kính toàn phần, cho phép khách tham quan nhìn thấy mọi hoạt động bên trong trước khi bước vào không gian triển lãm. Nội thất của tòa nhà được thiết kế với tường di động, cửa gấp và rèm, cho phép kết nối hoặc tách biệt các phòng theo các cách bố trí khác nhau, tạo ra sự linh hoạt trong thiết kế triển lãm và luồng nội dung.

Leipzig-3.png
Hình 3. Sơ đồ mặt bằng của Neubau. Các bức tường di động được treo trên trần và có thể thay đổi vị trí theo hướng các mũi tên. 
 

Cấu trúc nội thất khá hỗn độn và mở này thách thức, đồng thời cho phép các giám tuyển xử lý không gian tương tự như chơi một trò chơi ghép hình. Họ phải suy nghĩ kỹ về cách sắp xếp các tác phẩm, phần nào của triển lãm cần thu hút sự chú ý của khách tham quan, hoặc họ muốn tạo ra một lối vào như thế nào, v.v. Cấu trúc này cũng mang lại cho khán giả một trải nghiệm không gian hoàn toàn mới mỗi khi họ đến thăm bảo tàng.

Tòa nhà thứ ba, Garden House, được bổ sung vào tổ hợp năm 2011, biến các phòng từng được sử dụng làm studio cho các nghệ sĩ lưu trú thành các căn hộ khách sạn. Những không gian này “được các nghệ sĩ thường xuyên làm mới theo tinh thần chuyển đổi, một phần không thể thiếu trong chương trình của GfZK. Trong số các khái niệm khác, các nghệ sĩ khách mời khám phá mối quan hệ giữa việc công nhận giá trị của tác phẩm và sự phân bổ giá trị, từ đó thực tế hóa các khía cạnh kinh tế của sản xuất nghệ thuật.”

 

Kiến trúc của GfZK được xây dựng theo hướng kiến tạo, cho phép các giám tuyển và nhà giáo dục của bảo tàng bắt đầu với các dự án trung gian và tạo không gian giáo dục trong các triển lãm. 
 
Khi Nhà Giáo dục và Nhà Giám tuyển Bảo tàng trở thành một
 

Khác với một giám tuyển thuộc cơ quan tổ chức thông thường, Julia Schäfer không có nền tảng trong lịch sử nghệ thuật mà trong giáo dục nghệ thuật, văn học và mỹ thuật. Đối với cô, điều thú vị về nghệ thuật đương đại chính là tính chất gợi mở, luôn khiến con người suy nghĩ lại về những hành động và đồ vật hàng ngày từ một góc nhìn mới. Bắt đầu làm việc tại GfZK từ năm 2001, Schäfer nhận ra rằng, càng trong một tổ chức lớn, khoảng cách và tính phân cấp giữa các bộ phận giám tuyển và giáo dục càng lớn. Để lấp đầy khoảng cách này, trong mỗi dự án, Schäfer luôn cố gắng kết hợp triển lãm nghệ thuật với các chương trình giáo dục, giúp khách tham quan tương tác và thảo luận về các tác phẩm trưng bày, từ đó phát triển cách tiếp cận cá nhân với nội dung triển lãm và thậm chí áp dụng kiến thức mới vào cuộc sống hàng ngày.

 

Những nỗ lực của Schäfer trong việc kết nối triển lãm với khách tham quan được thể hiện qua các hoạt động trung gian đi kèm dự án đầu tiên của cô tại GfZK. Năm 2003, cô tổ chức triển lãm Home, Sweet Home với sự tham gia của sáu nghệ sĩ: Dorit Margreiter, Miriam Bäckström, Sophie Thorsen, Moira Zoitl, Pia Lanzinger và Isa Rosenberger. Triển lãm xoay quanh không gian sống và cách con người thích nghi với không gian. Trong triển lãm này, giám tuyển không viết bất kỳ chú thích nào mà mời khán giả để lại ghi chú về các tác phẩm họ nhìn thấy. Một số người viết ý tưởng có thể được đưa vào triển lãm, trong khi số khác thể hiện cảm xúc qua thơ ca.

 

Khu vực "góc đọc sách" được thiết kế trong triển lãm như một không gian thiền định, cung cấp thêm thông tin qua video, sách và tạp chí về chủ đề "Không gian sống". Đối với những khán giả không tìm được kết nối rõ ràng với triển lãm, khi bước vào không gian, họ được phát một tấm thẻ trung gian (mediation card) với những gợi ý:

  1. Đứng trước mỗi tác phẩm ít nhất ba phút
  2. Điều này gợi nhắc điều gì tôi đã biết không?
  3. Ý nghĩa của tác phẩm là gì?
  4. Điều đó liên quan gì đến tôi?
  5. Tác phẩm tồn tại trong bối cảnh xã hội nào?
Leipzig-4.png
Hình 4. Thẻ trung gian 
 
Những câu hỏi này là bước đầu tiên để khán giả bắt đầu một cuộc trò chuyện với tác phẩm nghệ thuật và liên hệ nó với trải nghiệm cá nhân. Tấm thẻ trung gian sau đó đã được sử dụng trong hầu hết các triển lãm của GfZK cùng với hộp Pick-Box, chứa tài liệu, nhiệm vụ và thông tin nền, chủ yếu giúp trẻ em trải nghiệm triển lãm một cách tích cực, hoặc đôi khi dành cho người lớn khám phá và liên tưởng mới3
 

Tiếp nối ý tưởng này, năm 2007, Schäfer tổ chức triển lãm cá nhân ROOMS, CONVERSATIONS (Blinky Palermo) của nghệ sĩ Tây Ban Nha Dora García, xoay quanh lịch sử của Stasi – cơ quan mật vụ dưới GDR, và các chủ đề liên quan đến tố cáo và giám sát.

Cùng với các video, hiện vật và sắp đặt, García đã chỉnh sửa các băng hình có sẵn, những cảnh quay lịch sử từ camera giám sát và tài liệu của các cộng tác viên không chính thức của Stati (IM). Những tư liệu này, khi được trưng bày ngoài bối cảnh lịch sử của chúng, mang đến một cách tiếp cận bất ngờ, giống như Nhà hát của sự phi lý (GARCÍA and Schaefer). Để hỗ trợ khách tham quan, giám tuyển đã tạo không gian 

Vì đề tài của tác phẩm vẫn còn rất nhạy cảm với những người từng sống dưới thời GDR do đó có thể kích động họ, giám tuyển đã quyết định thiết kế một không gian cho khán giả xem thêm tài liệu, tương tác với tác phẩm, để lại ý kiến, và đặt câu hỏi.

 
Sau đó, Schäfer biến những workshop và không gian trung gian này thành các ý tưởng giảm tuyển. Vào năm 2007, bà bắt đầu một dự án nhằm trưng bày bộ sưu tập nghệ thuật của Sachsen LB, một ngân hàng tại Leipzig đã sưu tầm nghệ thuật đương đại kể từ khi những loại hình nghệ thuật này mới ra đời. Bà dàn dựng một triển lãm ở hành lang mang tên Corridor as Display, phản ánh tình trạng nghệ thuật bị trưng bày tại những nơi không mấy lý tưởng, chẳng hạn các hành lang dài, hẹp, tối trong các tòa nhà ngân hàng. Ở lối vào triển lãm, khán giả có thể thấy một bức ảnh khổng lồ bao phủ toàn bộ bề mặt của bức tường bảo tàng cho thấy cảnh của thành phố Leipzig nhìn từ phòng điều hành trên tầng cao. Ở hành lang bảo tàng, văn phòng và phòng họp được tái tạo theo tỉ lệ thực với nội thất, cây cối, giấy dán tường... đặc trưng cho không gian ngân hàng. Các cuộc họp của ban giám đốc ngân hàng được tổ chức ngay trong không gian triển lãm đã được tái tạo thành những phòng họp.  Schäfer coi những cuộc họp này như những màn trình diễn trong đó người trình diễn không hề ý thức rằng mình đang làm như vậy.
 
Leipzig-5.png
Hình 5. Corridor as Display
 
Leipzig-6.png
Hình 6. Corridor as Display - một cuộc họp của lãnh đạo ngân hàng Sachsen LB trong không gian triển lãm
 
Với triển lãm này, giám tuyển đã biến không gian của ngân hàng và hoạt động kinh doanh của nó thành tác phẩm nghệ thuật. Khách thăm triển lãm không chỉ được xem tác phẩm vốn thuộc về các bộ sưu tập tư nhân và không thể tiếp cận với họ mà còn được trải nghiệm không khí làm việc tại một ngân hàng, bao gồm cả không gian vốn chỉ dành cho nhân viên và lãnh đạo cao cấp của ngân hàng mà thôi. Về phần mình, nhân viên ngân hàng Sachsen LB có cơ hội tái kết nối với không gian làm việc và các tác phẩm trong đó, những thứ họ vốn thấy hàng ngày, bằng một góc nhìn mới. Bằng việc tái tạo văn phòng ngân hàng như nó vốn thế trong không gian bảo tàng, không thứ còn tồn tại như nó vốn thế nữa.
 
Một dự án đáng chú khác là PUZZLE: The Collection’s Show, do Julia Schäfer giám tuyển vào năm 2010. Giám tuyển đã cắt sơ đồ mặt bằng của bảo tàng thành các mảnh nhỏ và chia chúng cho những nhóm khác nhau bao gồm trẻ em, những nhà trung gian nghệ thuật, hội viên bảo tàng, sinh viên, nhân viên kỹ thuật của bảo tàng... Mỗi một nhóm được mời làm việc với bộ sưu tập của bảo tàng để tạo ra những dự án khác nhau trong không gian được chia cho họ trong vòng một năm. Tùy theo chuyên môn, kinh nghiệm, hiểu biết và mối quan hệ mỗi nhóm có với bộ sưu tập, họ sẽ đưa ra những ý tưởng rất khác nhau trong việc giám tuyển các hiện vật và trung bày chúng ở không gian dành riêng cho họ. Trong suốt một năm, bảo tàng bận rộn với việc dàn dựng, tháo dỡ, rồi lại tái dàn dựng các sự kiện.  
Leipzig-7.png
Hình 7. Sơ đồ mặt bằng của Neubau được chia nhỏ thành 10 phần cho 10 nhóm tham gia dự án.
 
Những người tham gia dự án này được khuyến khích chủ động suy nghĩ về các bộ sưu tập trong bảo tàng không theo phương thức tiếp cận thông thường, mà như những giám tuyển có thẩm quyền chọn lựa tác phẩm, cách trưng bày chúng và câu chuyện muốn kể thông qua hành động này. Đây là một ví dụ lý tưởng về bảo tàng kiến tạo, hỗ trợ phương pháp học tập kiến tạo khi các mối quan hệ giữa giám tuyển, bộ sưu tập, không gian triển lãm và khán giả được đặt lại vấn đề và tái cấu trúc một cách toàn diện.
 

Áp dụng Giáo dục Bảo tàng vào Hoạt động của Không gian Nghệ thuật Độc lập ở Việt Nam

 

Là một cử nhân mỹ thuật chuyên ngành hội họa tại Việt Nam, tôi chỉ có thể tự học về nghệ thuật đương đại thông qua việc tham gia các hoạt động của các không gian nghệ thuật đương đại độc lập tại Hà Nội. Con đường này bất ngờ khiến tôi trở thành một nhà quản lý và tổ chức chương trình nghệ thuật, thay vì trở thành một nghệ sĩ như chuyên môn mà tôi đã được đào tạo. Như đã đề cập ở phần mở đầu của bài viết, Việt Nam hoàn toàn thiếu một hệ thống chính thống và sự hỗ trợ của Nhà nước đối với giáo dục nghệ thuật đương đại cũng như bảo tàng nghệ thuật đương đại. Các chương trình giáo dục nghệ thuật đương đại không hề có trong bất cứ chương trình giáo dục nghệ thuật nào tại trường đại học mỹ thuật do Nhà nước quản lý, trong khi các trường nghệ thuật tư nhân vẫn chưa được thành lập. Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, được coi là ngôi trường danh giá nhất cả nước, vẫn duy trì chương trình giảng dạy nghệ thuật được thiết lập gần 100 năm trước bởi thực dân Pháp. Các bảo tàng nghệ thuật nhà nước ở Việt Nam chỉ thu thập các tác phẩm nghệ thuật hiện đại và bảo quản chúng trong điều kiện yếu kém. Không có nỗ lực rõ ràng nào được thực hiện để thúc đẩy giáo dục hoặc nghiên cứu.

 

Cảnh quan nghệ thuật đương đại ở Việt Nam, được xem là bắt đầu từ những năm 1990, vẫn hoạt động tự phát và dựa chủ yếu vào sự hỗ trợ từ cá nhân và các tổ chức nghệ thuật, văn hóa nước ngoài. Điều này dẫn đến việc thực hành nghệ thuật đương đại chỉ dành cho một cộng đồng rất hạn chế, và các tác phẩm nghệ thuật đương đại rất khó tiếp cận cũng như khó hiểu ngay cả với các nghệ sĩ, chưa nói đến công chúng. Với tình hình trên, việc áp dụng thực tiễn giáo dục bảo tàng vào hệ thống bảo tàng nghệ thuật ở Việt Nam gần như không khả thi vào lúc này. Tuy nhiên, tôi nhận thấy sẽ rất hữu ích nếu tích hợp một số yếu tố của nó vào việc thiết kế các dự án nghệ thuật tại các không gian nghệ thuật và phòng trưng bày độc lập. Nếu trong bảo tàng nghệ thuật, luôn có khoảng cách và trật tự phân cấp giữa các giám tuyển và nhà giáo dục, thì tại các không gian nghệ thuật độc lập, có thể tìm thấy một khoảng cách tương tự giữa giám tuyển và các nhà quản lý/truyền thông. Trong khi các giám tuyển luôn muốn tạo ra các triển lãm/dự án truyền tải tầm nhìn và khái niệm của họ, thì ngôn ngữ và phương pháp họ sử dụng hầu hết không dễ tiếp cận đối với công chúng. Các nhà quản lý/truyền thông nghệ thuật đóng vai trò như cầu nối để kết nối các tác phẩm nghệ thuật và triển lãm với khán giả.

 

Trường hợp nghiên cứu về GfZK là một ví dụ lý tưởng về sự kết hợp giữa thực hành giám tuyển và thực hành giáo dục nghệ thuật, điều mà cũng có thể được áp dụng cho các chương trình nghệ thuật phi tổ chức. Phương pháp kiến tạo trong tổ chức dự án nghệ thuật, chẳng hạn như sử dụng thẻ trung gian, khuyến khích khán giả tham gia sâu hơn vào việc sáng tạo nghệ thuật và sản xuất chương trình bằng cách trao cho họ cơ hội đảm nhận những vai trò khác biệt so với vị trí thông thường của họ như khán giả, sẽ tạo ra một môi trường để hình thành sự hiểu biết và mối quan hệ mới với nghệ thuật. Điều này nhắc nhở tôi, với vai trò là một nhà quản lý và tổ chức chương trình nghệ thuật, luôn cân nhắc những câu hỏi quan trọng: Chúng ta tạo ra chương trình của mình cho ai? và Triển lãm được trưng bày dành cho đối tượng nào?

 
Nguồn tham khảo:
In a book chapter entitled The Constructivist Museum, George E. Hein theoreticized two important concepts upon which a constructivist museum should be built: (1) “the viewer constructs personal knowledge from the exhibit and” (2) “the process of gaining knowledge is itself a constructive act” (Hein 76). However, this chapter does not provide any clear examples of a constructivist museum, despite its author’s claim that “the constructivist museum is shown to be the most appropriate approach today”. Hein’s idea of a constructivist museum fascinates me, and in an effort to look for such an example lacking in his text, I found out about the Museum of Contemporary Art Leipzig (GfZK) as a perfect model for the concept of a constructivist museum. Since Julia Schäfer started to work as a curator and art mediator at GfZK in 2001, she has created projects which always revolve around the idea of empowering constructivist learning among learners. Having a background in art education, and working as a curator and art mediator over the last 20 years (2001 – 2021), Julia Schäfer combined these two roles to launch groundbreaking projects that blurred the gap between museum curatorial practice and museum educational practice. 
 
In the following, I use Heim's theory of the constructivist museum to analyze some of the projects that Julia Schäfer worked on at GfZK, showing how she broke the hierarchical order between the curator and art educator role in the museum, creating space for a smooth combination of contemporary art exhibitions and art education programs for the public. From this research, I also want to draw lessons that can be applied to activities of independent contemporary art spaces in Vietnam, where there is a lack of an orthodox system of and the State’s support for contemporary art education and contemporary art museums. 
 
An architecturally constructivist museum 
 
The Museum of Contemporary Art Leipzig (GfZK) is located in Leipzig, a small city in the East of Germany (former German Democratic Republic (GDR) territory) with approximately 560,000 inhabitants. The museum was founded in 1992 by former GDR art historians Klaus Werner and Arend Oetker and opened to the public in 1998. It is composed of three buildings. The first one, an opulent villa created by the architects Carl Weichardt and Bruno Eelbo in 1892 as a private 800-square-meter villa, was turned into a museum by architect Peter Kulka during the time 1996 – 1998. 
 
Leipzig-1.png
Fig. 1. The opulent villa with a hotel on the top floor (left) and its floor plan
 
The opulent villa’s floor plan is quite challenging for a contemporary art museum because it has fixed separate rooms with many windows. To deal with this space, the museum comes up with an operating model which include: two hotel apartments, one cafe design by artist, a library, an education department. The idea of having a cafe, and library to attract people into the museum is practiced by museums around the world. However, to have the hotel integrated into the museum is quite an innovative one. The fancy hotel apartment on the top of the opulent villa designed by two Swiss artists Sabina Lang and Daniel Baumann allows anyone to stay for the price of 200 Euros per night. Sometimes people might only know the museum by staying in this hotel, not by visiting the exhibition. But by staying in the museum for any purpose, they have gotten involved with the museum’s activities in different ways. 
Leipzig-2.png
Fig. 2. Neubau front view
 
The second building “Neubau” was opened to the public in 2004 adding 1000 more square meters of exhibition space to the existing building complex of the GfZK. Most of the walls of this building are covered by full-size glass which allows visitors to see everything that happens inside before entering the exhibition space. The interior of the building is constructed by movable walls, folding doors and curtains allow for the connection or separation of rooms in different constellations, and enable different exhibition layouts and content flow. 
 
Leipzig-3.png
Fig. 3. Neubau’s floor plan. Moveable walls that are hung on the ceiling and can be changed position following the directions of the arrows. 
 
The quite chaotic and open interior structure of the building challenges, at the same time allows, curators to deal with the space in a similar way of dealing with a puzzle game. They have to really think of how to install the works, which is the best part of the exhibition they would like to get visitor attention, what kind of entrance situation they want to create, etc. This structure also allows audiences a totally new spatial experience each time they visit the museum. 
 
The third building, Garden House, was added to the complex in 2011, turning rooms that once served as studios for visiting artists into hotel suites. These spaces are “regularly renewed by artists in the spirit of transformation, an integral part of the GfZK program. Among other concepts, guest artists deal with the relationship between the recognition of work and attribution of value, thus practically addressing the economic aspect of art production.”1
 
The architecture of GfZK is built constructively allowing its curators and educators to start with the mediation project and rooms for education in exhibitions. 
 
When Museum Educator and Museum Curator become one
 
Different from a typical institutional curator, Julia Schäfer does not have a background in art history but in art education, literature, and fine art. For her, what is interesting about contemporary art is its provocativeness which always brings people to rethink everyday actions, and everyday objects from a new perspective. Starting to work at GfZK in 2001, she found out that the bigger the institution is, the more separate and hierarchical between the curatorial and educational departments will be. In order to fill in this gap, in each of the projects, Schäfer always tries to include the art exhibition with educational programs which empower the visitors to interact with and discuss the presented objects and, from there, develop a personal approach to the exhibition content and even apply their new knowledge to daily life.
 
Schäfer’s attempts to link the exhibition with the visitors are shown in the mediation activities that were designed to accompany her first project at GfZK. In 2003, she curated the Home, Sweet Home exhibition with the participation of six artists: Dorit Margreiter, Miriam Bäckström, Sophie Thorsen, Moira Zoitl, Pia Lanzinger and Isa Rosenberger about the living space and how people adapt to spaces. In the Home, Sweet Home exhibition, the curator did not write any text but invited audiences to leave notes on the artworks that they saw in the exhibition. Some of them wrote down their ideas that could be brought into the exhibition, some expressed their thoughts in poems. 
 
A meditation area was created in the exhibition called "reading corner" which provided audiences with more information with videos, books, and magazines on the subject of "Living Space". There are audiences who might not find a clear connection to the exhibition. Upon entering the exhibition space, visitors were given a “mediation card” card which said: 
 
  1. Stand in front of each artwork for at least more than three minutes
  2. Does this remind me of something I already know?
  3. What is the meaning of the artwork?
  4. What does that have to do with me?
  5. In which social environment does the artwork stand?
Leipzig-4.png
Fig. 4. Mediation card 
 
Having these questions in mind will be a very good first step for them to start a conversation with the artwork and to communicate it with their own experience. This mediation card later accompanied almost every GfZK’s show together with a Pick-Box containing material, tasks, and background information, primarily aimed to help children experience exhibitions in an active way or sometimes could be used by adults to make new discoveries and associations3
 
Continue this idea, in 2007, Schäfer curated a solo show, ROOMS, CONVERSATIONS (Blinky Palermo), for the Spanish artist Dora García, whose work dealt with the history of the Stasi,  a secret service under the GRD which tried to keep its people always being under watch by the secret police, and “engaged with SITUATIONS of DENUNCIATION and surveillance”.
 
Alongside her own videos, objects and installations, Garcia has edited a selection of found footage, historical surveillance videos and photographs made by IM (unofficial collaborators with the Stasi). The material here presented out of its historical context reveals itself, surprisingly, as a peculiar form of narrative: conceptually highly interesting examinations of human behaviour and gestures that at times call to mind the Theatre of the Absurd (GARCÍA and Schaefer).
 
As the work is still a sensitive subject to people who used to live under the GDR and might provoke them, the curator decided to design a space for people to see more material by the artist, interact with the artwork, leave messages, add their opinions and post questions. 
 
Later, Schäfer transformed these mediation workshops and places into curatorial concepts. In 2007, she started a project to display the art collection of Sachsen LB, a bank in Leipzig that has been collecting contemporary art since the beginning of its existence. She created Corridor as Display reflecting the situation where art ends up in a not-so-ideal space for displaying art such as long, narrow, dark hallways like the corridor of the bank itself. At the entrance of the exhibition, visitors can see a giant photo that covers the full size of the museum wall which shows a view of Leipzig city looked down from the executive room in the back. The corridor, office and meeting rooms were recreated 1:1 in the GfZK with furniture, plants, wallpaper, etc that are typically used in a bank. The Bank director board event held a meeting inside the exhibition space which was recreated from their own meeting room at the bank. The meeting is considered by Schäfer herself a performance in which the performers were not aware that they were performing.
 
Leipzig-5.png
Fig 5. Corridor as Display
 
Leipzig-6.png
Fig. 6. Corridor as Display - a meeting of Sachsen LB leaders inside the exhibition space
 
By this exhibition, the curator turned the whole space of a bank and its business into an artwork. Visitors coming to the exhibition can not only appreciate the artworks that were previously in a private collection and not accessible to them but also experience how it is to work in a bank, including the spaces which are supposed to be for the staff and the high-ranking leaders of the bank only. In their turn, the staff of Sachsen LB are given a chance to reconnect with their working space and the artworks which they see every day in their office with a new perspective. By recreating the bank office as it is in the museum space, nothing can exist as it was before.
Another project worth mentioning here is the PUZZLE: The Collection’s Show, curated by Julia Schäfer in 2010. For this project, the curator cut out the museum floor plan and gave it to different groups of children, mediators, members of the museum, students, the museum technical staff, etc. Each group was invited to work with the museum collection to create different projects in the space assigned to them for one year. According to their own background, experience, understanding and the relationship they have with the collection, each group came up with a very different idea of curating objects and displaying them in their space. The museum was busy for the whole year with installing, de-installing, and reinstalling activities.
 
Leipzig-7.png
Fig. 7. Neubau’s floor plan is cut into 10 pieces and given to 10 different groups to work on their exhibition idea with the museum objects.
 
The participants to this project are invited to rethink the museum collection not in their usual way of approaching these objects, but as authorized curators who could choose the works, the way to display them and the story they want to convey through these actions. This is, for me, an ideal example of a constructivist museum which fully supports the constructivist way of learning in which the understanding of and relationships among every element that constructs an art museum such as the curator, the collection, the exhibition space, the audience, etc are all brought into question, completely de- and re-constructed. 
 
Applying Museum Education to Activities of Independent Art Spaces in Vietnam
 
As an art graduate majoring in painting in Vietnam, I could only educate myself about contemporary art by participating in activities of independent contemporary art spaces in Hanoi. This path unexpectedly took me away from becoming an artist, as I was trained, but becoming an art program manager and organizer instead. As I mentioned at the opening of this paper, Vietnam totally lacks an orthodox system of and the State’s support for contemporary art education and contemporary art museums. Contemporary Art education programs are absent from all State-run art universities in the country while private art school has not yet been founded. The Vietnam University of Fine Arts considered the most prestigious art school in the country, still pursued an art teaching curriculum set up almost 100 years ago by the French colonizer. State-run Art museums in Vietnam only collect modern artworks and preserve them in terrible conditions. No efforts on education and research activities are made visibly. The contemporary art scene in Vietnam which is considered to start in the 1990s is still run-on-it-own and with support from individuals and mostly foreign art and cultural organizations. This leads to the fact that Contemporary Art practice is for a very exclusive community and Contemporary artworks are hard to approach and be understood by even the artists themselves, not mention the general public. 
 
With the above-mentioned situation, applying the learning of museum education practice to the art museum in Vietnam is almost impossible for me at the moment. However, I found it would be very helpful to integrate some of its elements into designing art projects in independent art spaces and galleries. If there is always a gap and hierarchical order between curators and educators in any art museum, in the independent art space, a similar gap between curators and managers/communicators could also be found. While the curators always want to produce exhibitions/projects which convey their vision, and their curatorial concept, most of the time, the language and methodology they use are not accessible to the general public. The art manager/communicator plays the role of a bridge to connect the artworks and the exhibition to the audience. 
 
The case study of GfZK is an ideal example of the combination of curatorial practice and art education practice, which can also be applied to non-institutional art programs. The constructivist method in organizing an art project, such as using the mediation card, empowering audiences to engage more deeply in artistic creation and program production by giving them the opportunity to stand in a different role than their usual position as an audience, will create an environment for new understanding of, and new relationships with the art to be created. It reminds me as an art program manager and organizer to always consider the important questions: for whom we create our program, and for whom the exhibition is displayed. 
 
Works Cited:

m2o7yjj319i3dxkj
TinTuc
undefined
ly9t8pab7fojncn5,mezqhxj65bv6nvhg