Ingo Vetter (IV): Phải nói thế nào nhỉ? Để tôi thử tóm tắt xem. Kết hợp mô hình MAP – Tháng thực hành nghệ thuật – danh tiếng và một dự án nghiên cứu học thuật mới trong năm 2023 là bước đầu của một hợp tác ba năm giữa Heritage Space và Đại học Nghệ thuật Bremen. Chúng ta đã quyết định phát triển dự án tập trung vào chủ đề chuyển động, đặt câu hỏi về ý nghĩa của thuật ngữ này và những cách thức làm việc với nó. Đây có vẻ là một chủ đề nóng hổi ngày nay, một thời đại mà câu hỏi về tính bền vững được đặt lên hàng đầu.
Chúng ta đã bắt đầu bằng những ví dụ cụ thể về các dự án nghệ thuật đề cập đến đề tài chuyển động – chẳng hạn Câu chuyện Cá của Allan Sekula và Vũ điệu của các Kỵ sĩ máy của Trần Nguyễn Ưu Đàm. Cả hai dự án này đều đề cập đến chuyển động vật lý của con người và hàng hóa. Câu chuyện Cá ghi lại chuyển động của hàng hóa trong nền kinh tế toàn cầu hóa bằng cách đi theo và chụp ảnh một tàu hàng chờ cá cùng đoàn thủy thủ trên đó. Vũ điệu của các Kỵ sĩ máy là một tác phẩm video về xe máy vì đây là phương tiện đi lại phổ biến nhất ở Việt Nam, phổ biến đến nỗi trở thành một tác nhân định hình xã hội. Chúng ta – tức là tôi và anh, anh Nguyễn Anh Tuấn ạ – đã mời các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, và giám tuyển mà chúng ta cho là sẽ có hứng thú với đề tài chuyển động, hoặc là những người đã làm việc với chủ đề này, để cùng chúng ta suy nghĩ. Mặc dù biết mình làm việc cùng ai, kết quả lại khá khác so với những gì chúng ta mường tượng.
Giờ những triển lãm đầu tiên đã gần kết thúc, chúng ta đã có rất nhiều cuộc họp, thảo luận, trọng tâm của dự án chuyển từ sự chuyển động của vật chất thực sang một nhận thức chung về chuyển động.
Nguyễn Anh Tuấn (NAT): Vâng, và lúc bắt đầu, chúng ta đã đề nghị các đối tác cùng tư duy với mình chia sẻ các đề xuất tác phẩm của họ. Thời gian làm việc khá ngắn: chỉ trong chưa đầy bốn tháng, với hai tháng chuẩn bị, và hai tháng thực hiện tác phẩm. Một số nghệ sĩ chúng ta đã biết từ trước, một số mới được giới thiệu. Đó là một sự kết hợp tốt. Chúng ta khởi đầu bằng việc cân nhắc đến định nghĩa khái niệm chuyển động – và nó mở rộng từ giao thông sang vận động xã hội. Tất nhiên di cư và nhập cư là các chủ đề quan trọng ngay từ đầu khi chúng ta biết mình quan tâm tới tất cả các dạng thức của sự biến chuyển. Chuyển động có thể bao gồm rất rất nhiều thứ nhưng cái chung ở đây là sự xoay vòng trong các cộng đồng – trong một xã hội cụ thể, hoặc thậm chí trên toàn thế giới.
Nhóm giám tuyển và nghệ sĩ ở Hà Nội đặc biệt thích thử nghiệm và thực hành. Chúng tôi muốn phát triển một khái niệm mới về chuyển động cho thời điểm hiện tại, một khái niệm có thể được chia sẻ và trao đổi với người khác. Tất cả người tham dự đều biết đây là một phần của một dự án nghiên cứu học thuật lớn hơn với định hướng về sự bền vững.
IV: Bối cảnh học thuật có vai trò quan trọng: các trường đại học là tình huống mẫu cho những cộng đồng lớn hơn, và MAP 2023 là một phần của dự án nghiên cứu rộng hơn Bremen tiến tới bền vững tại trường đại học của chúng tôi, HfK, tập trung và những mô hình chuyển động thực – anh biết đấy, những thứ như hệ thống chung cho xe đạp thồ hay xe đẩy. Nó rất thực tế, rất cụ thể. Một phần trong dự án của chúng ta, MAP 2023, đặc biệt khám phá góc nhìn nghệ thuật về chuyển động. Chúng ta là một dạng tiền đồn của dự án vì chúng ta nghiêng về phần lý thuyết và khái niệm nhiều hơn, và kết quả của chúng ta sẽ đạt đến cấp độ tạo những hình ảnh và trần thuật mới cho chuyển động. Tất nhiên chúng ta đã nghĩ về bối cảnh chuyển động ở cả Hà Nội và Bremen, anh Tuấn nhỉ. Bremen là một thành phố cảng với hàng hóa và con người và những người di cư đến và đi, còn Hà Nội thì giao thông quá mức hỗn tạp, chẳng có quy luật nào, và tiêu thụ mọi lúc mọi nơi.
NAT: Hà Nội bây giờ không còn là một thành phố nhỏ nữa, nó đang trên đà phát triển thành một siêu đô thị cả về diện tích và dân số. Với dân số 8 triệu người hiện có, nó đang trải qua những biến đổi mà bất cứ thành phố lớn nào cũng gặp phải – và đó là những biến đổi gây ra do vấn đề chuyển động. Tôi quan tâm đến sự dịch chuyển của những cộng đồng khác nhau, chẳng hạn người nhập cư, lao động, và sinh viên. Rất nhiều sinh viên đến Hà Nội từ các vùng nông thôn và tạo nên những cộng đồng mới ở những khu vực khác nhau trong thành phố. Đó là một quá trình khiến cho bản thân thành phố cũng dịch chuyển. Trung tâm cũ của Hà Nội nằm quanh khu vực Hồ Gươm, nhưng trung tâm thực sự của nó trong năm năm tới chắc chắn sẽ di chuyển đến rìa sông. Nghệ sĩ Nguyễn Vũ Hải đặc biệt quan tâm đến điểm này: anh ấy nói rằng dòng sông dịch chuyển một cách tự nhiên và cùng với sự thay đổi đó trung tâm của thành phố cũng dịch chuyển dọc bờ sông.
IV: Việc giải tỏa mặt bằng các khu vực khác nhau của thành phố diễn ra nhanh chóng. Năm ngoái tôi đã đến đây, năm nay cũng đến, thế mà đã có bao nhiêu thứ tôi không nhận ra vì chúng thay đổi quá nhanh.
NAT: Hải nói rằng khi dòng sông dịch chuyển, nó thay đổi cấu trúc vật lý và phong cảnh của thành phố, vì thế mà các cộng đồng cũng di dời theo. Nhìn về lâu dài thì chẳng có thứ gì là vĩnh viễn, thậm chí cả thành phố cũng đang di chuyển, có chăng chỉ cấu trúc quản lý trung ương là có vẽ không bao giờ thay đổi.
IV: Hải cũng nói về khung thời gian trong đó những đổi thay xảy xa. Khi mô tả sự dịch chuyển của dòng sông, anh ấy đã nhìn vào một quãng thời gian rất dài. Tác phẩm của anh trong triển lãm này là về một địa điểm đã bị bỏ hoang từ lâu trong thành phố nơi bị tự nhiên xâm thực khi không có sự hiện diện của con người trong suốt bốn năm. Hải nhìn từ quan điểm phi nhân loại. Vì con người khó có thể có tầm nhìn vượt qua một thế kỷ, nhưng sự dịch chuyển của dòng sông là một tiến trình ngàn năm.
NAT: Chính từ cảm hứng này, Hải đã thực hiện tác phẩm dưới dạng một trò chơi tương tác với quá khứ bị bỏ hoang của căn phòng triển lãm – đó là một tòa nhà bị lãng quên trong nhà máy xe lửa. Tòa nhà hoang trở thành nơi cư trú của một loài sinh vật khác trong nhiều năm, cho đến khi nó bị xâm lược, và biến đổi vì sự trở lại của loài người. Trong những buổi thảo luận chuẩn bị thực hiện tác phẩm, Gemini Kim trình bày một hướng tiếp cận khác biệt đối với các cơ sở công nghiệp: Dự án nhà máy vô hình chạy của anh mô tả sự di chuyển của các nhà máy từ quốc gia này sang quốc gia khác, tỉnh này sang tỉnh khác. Tại Việt Nam, dưới tác động của chính sách nhà nước, các nhà máy cũng di chuyển từ tỉnh nọ sang tỉnh kia, và khi chúng bị di dời, cộng đồng công nhân cũng phải di chuyển theo, tạo ra một hệ thống di cư.
IV: Điều khiến tôi phấn khích về tác phẩm của Gemini là anh ấy đã coi nhà máy như một sinh vật sống, một thực thể tự lên kế hoạch cho chính nó. Anh lần theo câu chuyện của một tòa nhà thực và điều tra cách nó di chuyển từ quốc gia này tới quốc gia khác; cách nó phá hủy môi cảnh xung quanh nơi nó hoạt động. Gemini làm thế bằng cách chạy bộ quanh những khu vực này, anh kết nối cơ thể mình với cơ thể của nhà máy. Khi anh đến Hà Nội, anh đã đọc một câu chuyện về giờ mão, cái tên người Việt Nam thường dùng để gọi những giờ vào sáng sớm.
NAT: Gemini mô tả cách anh rời nhà từ năm giờ sáng, trước cả khi mặt trời mọc, và đạp xe xuyên qua thành phố đến tận bảy giờ. Vào năm giờ sáng trời vẫn còn rất tối, đường hầu như vắng bóng người, nhưng đến sáu và bảy giờ thì ngày càng có nhiều người ra đường. Họ tập thể dục và làm mọi việc ngẫu nhiên. Người thì chuẩn bị bán hàng, người thì chuẩn bị đi làm. Anh cho thấy thành phố như một cơ thể sống mà anh là người cố đánh thức nó khi cố gắng tái khám phá nó.
IV: Anh ấy đeo một mặt nạ mèo và đạp xe lòng vòng, biến mình thành một con mèo trong giờ mão. Cũng như Dự án nhà máy vô hình chạy, anh kết nối cơ thể mình với cơ thể của thành phố.
NAT: Trong MAP chúng ta có nhiều tác phẩm thoạt trông thì có vẻ chỉ lướt qua đề tài chuyển động thôi. Nhưng nếu nhìn kỹ, anh sẽ thấy chúng xử lý đề tài này một cách rất quyết liệt, và theo một cách thức khác xa so với mường tượng của chúng ta. Alexander Noah tạo một sắp đặt với những túi giấy nhàu nát tạo hình từ những bàn tay để nói về việc lao động là một phần của sự dịch chuyển hàng hóa, và về khả năng di động của sản phẩm vượt xa khả năng di động của những người tạo ra chúng. Tất nhiên là đề tài này chạm tới những nguyên lý kinh tế cổ điển và tình trạng căn bản của sự toàn cầu hóa. Sắp đặt chỉ gồm những chiếc túi giản đơn từng được dùng để đựng bánh mì cuộn bán ở khắp nơi trên thế giới đã đưa những mối bận tâm về kinh tế này trở lại với trải nghiệm thường nhật.
IV: Toàn cầu hóa là vấn đề trọng tâm trong chủ đề chuyển động. Jisu Kim khám phá nó bằng một sự phóng chiếu kép cho chúng ta thấy cô đang nhìn vào những tác phẩm nổi tiếng nằm đắp chiếu trong nhà kho ở những khu vực mậu dịch tự do tại Geneva. Chúng chưa bao giờ rời khỏi nhà kho, nhưng người sở hữu chúng thì thường xuyên thay đổi – đó là một hiện tượng do luật thuế toàn cầu gây ra. Những thước phim được trình chiếu cho thấy hình ảnh cận cảnh đôi mắt cô và, trong một hình phản chiếu lên con ngươi của cô, anh sẽ thấy tác phẩm. Cô đang nhìn những kho hàng trong các nhà kho trong khu vực mậu dịch tự do trên màn hình vi tính. Là một nghệ sĩ, cô đặt bản thân vào các mối quan hệ với hệ thống giao dịch toàn cầu này.
NAT: Cuốn sách của Renen được gửi tới Hà Nội đến từ một nơi tương tự: anh đặt cho nó tựa đề Tôi không thể tôi lo lắng về vận hành của thị trường nghệ thuật. Nghệ thuật có một bản dạng vật chất, nhưng giá trị của nó lại là một thứ khác khi nó được luân chuyển và trao đổi bên ngoài chủ thể dù là của nghệ sĩ hay là của chính hiện vật nghệ thuật. Trong xã hội Việt Nam nghệ thuật là một thứ gì đó vô giá, nó nằm ngoài thang giá trị này – những hệ thống định giá tạo ra từ các thị trường bên ngoài có trụ sở tại Singapore, Hồng Kông, Châu Âu hoặc Hoa Kỳ. Khi nói về thị trường nghệ thuật ở Việt Nam, chúng ta đang nói về một thứ nằm ngoài hệ thống giá trị.
IV: Renen vừa mới tốt nghiệp thôi; Jisu vẫn còn là sinh viên. Cả hai đều đang trăn trở tìm hiểu về kết nối với loại thị trường nghệ thuật quốc tế này.
NAT: Tác phẩm của Yuhei Higashi đề cập đến hoạt động xuất-nhập khẩu, ở cả hai địa hạt vật chất và kỹ thuật số. Khởi điểm là chuối bán trên phố Hà Nội và cách loại quả này được vận chuyển đến khắp các lãnh thổ. Ở Nhật không trồng chuối và họ thường nhập khẩu chuối từ Philippines, và hầu hết đến từ một công ty duy nhất có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn hoa quả của người Nhật. Tại Việt Nam, chuối mua ở chợ hay ngoài phố thường có ba hay bốn kích cỡ khác nhau, và hương vị cũng khác nhau. Nhưng khi anh đến siêu thị, tất cả chuối trong đó đều như nhau. Sự tiêu chuẩn hóa này khiến cho chỉ một loại chuối duy nhất được phép có mặt. Việc mang chuối Việt Nam loại nhỏ, trồng tại địa phương và không đạt kích thước tiêu chuẩn tới Nhật chỉ có thể thực hiện được bằng đường vòng. Yuhei Higashikata bắt đầu quét 3D quả chuối rồi gửi bản quét qua email sang Nhật nơi nó được in 3D theo kích thước ban đầu.
IV: Ở Bremen chúng tôi trình chiếu video cho thấy quá trình quét và in quả chuối. Ở Hà Nội anh cũng trình chiếu một áp phích lớn với ảnh chân dung của chính nghệ sĩ mặc một chiếc áo in hình quả chuối. Những quả chuối in trên áo bị cắt rời khỏi áp phích rơi xuống sàn nhà, nằm lẫn vào các túi chuối khô. Cái nọ nối tiếp cái kia, thay đổi cả hình dáng lẫn vật chất.
NAT: Tác phẩm mà chúng ta đã trưng bày ở cả Bremen và Hà Nội là Thân thể rời tọa độ của Sylbee Kim. Bản thân nghệ sĩ thì di chuyển qua lại giữa Berlin và Seoul, nửa năm chỗ này, nửa năm chỗ kia.
IV: Cô ấy khám phá cách chúng ta nói về sự di cư hay nhà mà không gắn mác cho một người là người nhập cư, người nước ngoài, hay người bản địa. Sylbee cố gắng vượt qua những khoảng cách ấy để tìm điểm chung nhằm nói về nơi tất cả chúng ta đều từ đó mà đến. Cô giải thích về sự phân mảng chứa đựng trong tất cả những lịch sử di cư phức tạp, và đề xuất một phương thức trò chuyện với nhau trong một không gian an toàn, một miền không tưởng. Những nghệ sĩ trình diễn của cô học bài hát của nhau bằng tiếng mẹ đẻ của người kia, rồi họ tạo ra trải nghiệm để một người có thể dịch chuyển tới một nơi chốn khác mà bản thân anh ta hoàn toàn không di chuyển chút nào. Điều đó rất thú vị vì nó vượt qua chuyển động vật lý và chạm thẳng vào trải nghiệm. Trong triển lãm cô xây dựng một vùng của các đạo cụ – nào dây thừng, nào mảnh vụn, nào đũa, nào hương. Chúng tạo ra một khu vực giống như ngôi đền cho những bài hát nối tiếp nhau phát ra từ một video trình diễn đã được biên tập.
NAT: Tôi cho rằng ý tưởng của Sylbee đã mang cơ thể, tâm trí và linh hồn lại với nhau – ý tôi là, có lẽ mỗi người đồng hành cùng nhau nhưng lại có những hành trình khác biệt. Ý tưởng về một ngôn ngữ phổ quát đã được tạo ra.
IV: Tôi không chắc nó là phổ quát.
NAT: Khi chúng ta nghe một bài hát cổ được hát bằng tiếng mẹ đẻ, dù chúng ta không hiểu lời nhưng vẫn có thể nhận ra giai điệu. Nó tạo ra cảm giác về sự chuyển động, sự trở về, kể cả là một nơi chốn chưa được biết tới, nhưng đã như thân thuộc.
IV: Quỳnh Lâm thì lại đề cập đến sông Weser – đây là con sông nơi con tàu trưng bày triển lãm ở Bremen neo đậu – và bản thân con tàu cũng là một nơi chốn. Quỳnh là một người tị nạn vì COVID – đại dịch hạn chế việc đi lại của cô, khiến cô bị mắc kẹt. Ở nơi mới này, trên con tàu triển lãm, cô đã đo đạc không gian, biến nó thuộc về cô, thành nơi cô cư trú. Bằng những công cụ trình diễn cơ bản, cô đã tạo ra một không gian tạm thời của riêng cô, để rồi bước tiếp. Cô ấy cũng chảy trôi như dòng sông.
NAT: Đo đạc cũng là chủ đề trong tác phẩm con lắc của nghệ sĩ Ngô Đình Bảo Châu. Cô tạo ra một video dài 27 phút phản ánh thời gian cô cần để di chuyển từ nhà ở bên này sông Hồng tới xưởng làm việc bên kia sông, đi qua cầu Long Biên. Video lặp vòng giống như sự tiếp diễn của vòng đời đã trải qua. Trong quan niệm phương Đông, thời gian được hiểu là một vòng tuần hoàn mãi mãi lặp lại.
IV: Hai tác phẩm đề cập đến trải nghiệm thời gian và chuyển động là trình diễn của Akosua Viktoria Adu-Sanyah tại không gian triển lãm ở Hà Nội và tác phẩm của Sarah Morag. Akosua nói về các bài tập thể chất hay như cô gọi chúng là ‘bài tập thể chất tổng thể’.
NAT: Akosua bắt đầu bằng một câu chuyện cá nhân. Cô nhớ lại việc cha mình bị mù hai năm trước đó và cách ông làm quen với bóng tối, cũng như những kỳ vọng mới đi kèm với sự thay đổi giác quan này. Trong thời gian COVID, vì bị mù, ông bị bỏ lại ở sân bay quê nhà trên đường cố gắng trở về châu Âu. Thú vị là Akosua muốn làm việc với những trải nghiệm về khoảng cách trong bóng tối, anh biết cái cảm giác khi bản thân không nhận ra mình ở đâu và bất cứ thứ gì quanh mình chứ? Khi đến Hà Nội lần đầu, cô ấy đã bị tốc độ của thành phố và giao thông lộn xộn ngoài đường làm cho kinh ngạc. Thế mà lúc đến thăm không gian triển lãm trong nhà máy xe lửa, cô lại cảm thấy nó giống như một nhà tù vì những bức tường rất dày bên trong tòa nhà. Cô đã biến không gian này thành xưởng làm việc. Sàn nhà khá nguy hiểm vì có đầy rãnh và hố và mặt đất thì lổn nhổn những đồ, nên anh phải bước rất cẩn thận. Cô ấy đã yêu cầu người tham dự bịt mắt và đi bộ dọc căn phòng, một hành động khá thách thức. Anh phải thật chú ý về kích thước căn phòng, nó đánh thức các giác quan của anh. Tất cả người tham dự đều đi siêu chậm. Họ cũng được yêu cầu vẽ một đường thẳng và nó phản ánh phần nào nhịp tim của họ – giống cảm giác sợ bị lạc, hoặc khi không tự tin, sự căng thẳng của anh có thể được thể hiện qua nét vẽ.
IV: Ồ, tức là anh vừa đi vừa vẽ à?
NAT: Vâng. Chúng tôi phải đứng hết về một bên, còn Akosua đứng ở bên kia. Rồi chúng tôi nhặt giấy và bút chì vừa bước đi vừa vẽ. Khi đi, chúng tôi cố gắng bám theo chuyển động. Một số người rất tự tin và đi rất nhanh. Nhưng một số khác lại cần thời gian gấp đôi hoặc gấp ba. Nghệ sĩ dùng máy ảnh chụp lại các khoảnh khắc bằng kỹ thuật phơi sáng và một số nhân vật gần như là vô hình – phơi sáng chỉ bắt lại được những gì bất động hoặc các cơ thể di chuyển thật chậm, ai đi nhanh thì chỉ để lại cái bóng mờ. Với tôi, cách này đề cập đến cả thời gian và khoảng cách cũng như chuyển động cả bên trong và bên ngoài cơ thể.
IV: Còn Sarah Morag thì sao?
NAT: Đợt COVID cô ấy bị mắc kẹt ở nhà và chìm đắm trong các suy nghĩ riêng. Đối với nhiều nghệ sĩ đại dịch là thời gian để nghĩ lại về các chiến lược và những quy trình vốn đã quen thuộc, tìm ra hướng đi và thực hành nghệ thuật mới để thoát khỏi tình trạng cô lập bế tắc này.
Lúc mới đến Hà Nội, Sarah đã gửi cho chúng ta đề xuất tác phẩm lấy con diều thể hiện cho sự giải phóng khỏi bóng tối bên trong. Đó là một cách để gắn kết với thiên nhiên và cộng đồng. Thả diều là một trò chơi truyền thống của Việt Nam thu hút nhiều người tụ tập. Nó đại diện cho ước mơ và là cách để mang theo hy vọng. Sarah muốn tìm cách thoát khỏi trải nghiệm ám ảnh do COVID gây ra. Khi đến không gian triển lãm tại Hà Nội, cô đã chọn một căn phòng nhỏ như một gian ngục, và sắp đặt những chiếc diều ở bên trong. Đối với cô, diều nằm trên mặt đất rồi từ từ bay lên cao vút. Trong văn hóa Việt Nam cánh diều kết nối thiên đường và trần thế. Và qua đó anh sẽ hiểu được hy vọng, thành công, và tự do của chuyển động chứa đựng trong ngôn ngữ ý niệm, nhưng nó không phải là một cách truyền tải, theo kiểu đi từ một điểm này tới điểm kia.
IV: Đối với cô ấy thì nó không chuyển động, ý tôi là con diều ấy, con diều luôn bất động, so với buồm hay dù thì con diều đứng im…
NAT: … con diều đứng im vì anh phải giữ lấy nó.
IV: Chúng tôi cũng có cuộc thảo luận tương tự với Jamie Yzabel Santos, người có một sắp đặt dù lượn ở triển lãm tại Bremen, cũng gần giống với diều. Diều di chuyển nhờ gió, nhưng đồng thời chúng lại đứng im – anh nhìn nó từ một điểm cố định. Dù lượn công nghệ cao bây giờ được dùng để tiết kiệm nhiên liệu cho các tàu hàng hiện đại. Tàu hàng bây giờ không có buồm, nên diều là cách duy nhất để anh ghép thêm một thứ gì khác vào một cấu trúc sẵn có. Jamie mô tả đó như một dạng khoảnh khắc hoài cổ hay gần như một nỗi khắc khoải – nhằm thả diều và tạo ra một giải pháp cho chủ nghĩa tư bản xanh ở một mức độ biểu trưng. Đối với cô ấy, có thứ gì đó rất hoài niệm nằm ở tương lai.
NAT: Nó có thể là một hình thức di chuyển trong tương lai, kết hợp một thứ dung tục như là tàu hàng vào những mục tiêu cao cả hơn. Chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ là một cuộc dấn thân lý tính. Một tác phẩm khác về chuyển động là về bơi lội, Breman, của Mohar Kalra. Nhân vật này di chuyển theo thủy triều. Vì Bremen nằm ở ven biển, mỗi khi thủy triều dâng thì dòng chảy của sông Weser lại bị đảo chiều.
IV: Đó là một tác phẩm nhỏ đầy chất thơ. Breman giống như vua Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp – cứ cố bơi ngược dòng triều dâng. Giống như những con diều, nó được gắn cố định vào một điểm và di chuyển vòng quanh bằng lực đẩy của dòng sông và gió.
NAT: Tác phẩm của Felix Dreesen đề cập đến vận tải và giao thông một cách trực diện hơn. Anh biết đấy, ngay từ lúc bước chân ra khỏi máy bay anh ấy đã thực hiện nó bằng cách chụp ảnh một bức tranh tường mô tả đường cao tốc, máy bay và cầu đường ở Sân bay Quốc tế Nội Bài. Hình thức thể hiện này thu hút anh ấy đến mức anh ấy tiếp tục đi bộ và đạp xe quanh Hà Nội để tìm và thu thập thêm các tranh tường về đề tài này. Những bức ảnh được anh tập hợp trong một cuốn sách nghệ sĩ, với thiết kế đóng gáy kết hợp cả hai truyền thống đông tây. Người xem có thể đọc nó từ cả hai chiều, mở ra và tái tổ hợp các trang cũng giống cách anh ấy thực hiện các chuyến đi xuất phát từ thành phố: anh có thể đi bộ trên phố, rẽ vào bất cứ chỗ nào rồi bắt gặp một thứ kết nối anh với một thứ khác vào khoảnh khắc tiếp theo. Hành động đọc sách cũng giống như hành động đi trên phố. Nó thể hiện rất tốt ý tưởng về chuyển động, cả ở mặt ý niệm và vật chất.
IV: Tôi thích cách anh ấy tập trung vào duy nhất một chủ đề. Anh ấy nói: Tôi đến đây lần đầu, tôi không biết thứ gì về nơi này cả, thế thì tôi có gì để nói? Anh ấy chụp ảnh lại những hình ảnh sẵn có. Như thế, anh ấy không cố chụp lại các cảnh huống mà chỉ chụp những bức tranh tường, tức là những tư duy nghệ thuật có sẵn. Bằng việc ghi tư liệu những ý tưởng này, anh kể cho chúng ta câu chuyện về cách nhìn của người Việt Nam về chuyển động và câu chuyện của riêng anh cũng về chuyển động. Nó rất tuyệt, rất khiêm nhường.
NAT: Tác phẩm của anh ấy khiến tôi nghĩ đến mê cung, đến sự mê hoặc. Ở đó anh có hằng hà vô số các ngã rẽ và lựa chọn ở vô vàn phương hướng. Đây cũng là trường hợp thấy trong tác phẩm của Ngô Đình Bảo Châu, người đã lấp đầy lối vào không gian triển lãm tại Hà Nội bằng những bức vẽ trên tường, trên sàn nhà cũng như mở rộng sắp đặt bao gồm cả vật thể điêu khắc. Lúc bắt đầu dự án cô đã nghĩ về việc làm một sân chơi. Trong đại dịch, cô bị kẹt trong nhà, và bắt đầu coi nhà như một sân chơi nơi con gái cô chơi đùa mỗi ngày. Cô muốn truyền năng lượng cởi mở tích cực của trò chơi này tới triển lãm bằng cách đưa ra các đề xuất khác nhau về sân chơi cho khán giả.
IV: Khi tôi bước vào không gian triển lãm ở Hà Nội lần đầu, tôi đã cố để hiểu cấu trúc của nhà máy xe lửa trước kia và mục đích của những hố rãnh trên sàn hay các mấu đóng trên tường. Thường thì người ta luôn nghĩ mọi thứ trong một nhà máy phải cực kỳ lý tính. Thấy một sân chơi ở đây quả là đã tạo ra một động thái và tư duy mới. Chơi như một khả năng để thoát khỏi bế tắc của những tòa nhà bị bỏ hoang.
Tiếp theo chúng ta có Hwayong Kim. Cô ấy đã tạo ra một cuốn sách kể một câu chuyện vô cùng sâu sắc.
NAT: Cô ấy làm việc ở siêu đô thị Seoul và hòn đảo Jeju đầy khách du lịch. Cô ấy quan tâm đến khái niệm bản đồ, và sử dụng nó một cách vị nghệ thuật trong tác phẩm về nghề sản xuất muối truyền thống tại các vùng đất trũng ở Jeju. Khi đến Việt Nam, cô bắt đầu đến vườn quốc gia Cát Bà, cũng là một vùng trũng gần biển. Nhưng đất ở đó có rừng ngập mặn rậm rạp bao phủ và chúng ngăn bờ biển bị mặn hóa. Cô tạo ra một cuốn sách nghệ sĩ về hành trình nên thơ của muối.
IV: Tôi đặc biệt thích thú về cách cô ấy kể về cách chúng chiết xuất và ta sử dụng muối rồi đưa khán giả vào một hành trình phức tạp xuyên qua lịch sử của Hàn Quốc và Việt Nam, khám phá sự phát triển của mỗi nơi, chính trị và chủ nghĩa thực dân, để rồi kết thúc câu chuyện ngoài vũ trụ, trên Sao Hỏa.
NAT: Tiến tới Sao Hỏa, tương lai của chúng ta! Tôi cho là toàn bộ dự án của cô ấy nói về những suy tư về tương lai.
IV: Tác phẩm này mở ra ý tưởng về chính chuyển động của vật chất, hàng hóa, và con người. Và cô ấy đã đưa anh, với tư cách khán giả, vào một hành trình ly kỳ. Cũng giống cách Kayle Brandon mời anh tham gia hành trình khi cô ấy nói về nguồn gốc của các loại đường khác nhau và việc sản xuất rượu rum trong tam giác nô lệ giữa Anh, Tây Phi và các hòn đảo Caribe. Cô ấy mô tả hành trình như một cơ thể và kết nối với các mảnh lịch sử của những gia đình đã từng bị nô lệ và trở lại những manh mối khác nhau để một lần nữa hòa nhập là một cơ thể, cơ thể của những trải nghiệm bất đồng, những nguồn gốc khác biệt, những câu chuyện không giống nhau. Cô ấy chọn nhiều loại mật đường và trộn chung với men rượu mà cô định dùng để chưng cất vào cuối triển lãm. Đó là một quá trình phản ứng hóa học đề cập đến những mảnh truyện về chủ nghĩa thực dân, nô lệ và các gia đình đằng sau nó. Kayle đến từ Bristol, thành phố cảng lớn của Anh dành cho nhập khẩu đường và rượu rum từ Caribe trong thời kỳ thực dân Anh thống trị. Lịch sử thuộc địa là bối cảnh của chính gia đình cô, những người đã theo những tàu chở mía từ Jamaica tới Anh.
NAT: Nguyễn Hoàng Anh thì thực hành múa đương đại, kịch và nghệ thuật trình diễn và toàn bộ thực hành của anh dựa trên chuyện đồng. Trong thời gian ở Hà Nội, anh cho biết càng khám phá về chuyển động, anh càng ít muốn di chuyển về mặt vật lý để thực hiện tác phẩm của mình. Thay vào đó, anh muốn tiếp cận một trạng thái bồng bềnh, chao đảo. Trong video của anh ấy, anh sẽ thấy một không gian mờ tối, nghệ sĩ chỉ xuất hiện mở ảo ở hậu cảnh nhả ra những vòng khói bay về phía máy ảnh và vật chất hóa trong ánh sáng ở tiền cảnh. Đó là một hành động không xác định và những suy tư vẫn cứ trôi nổi.
IV: Rất nhiều nghệ sĩ nói về việc di chuyển như một đặc quyền.
NAT: Vâng, Akosua nhắc đến đặc quyền được đến Hà Nội và cô ấy đã cố vượt ra khỏi tư duy khách du lịch bằng cách kết nối với thành phố, dậy sớm vào mỗi buổi sáng để trải nghiệm sự thức giấc của nó, đi lại xung quanh và thực sự cố gắng hiểu được nơi này. Akosua có nói cô ấy ngạc nhiên vì chưa bao giờ nhìn thấy người đi xe lăn trên phố Hà Nội.
IV: Trong một buổi họp mặt chuẩn bị, Nguyễn Vũ Hải đã trình chiếu một video có sáu người đi dạo trên phố trong đó có ba người ngồi xe lăn và họ đang cố gắng đi qua đường để sang một con phố gần đó. Vì vỉa hè bị chiếm dụng cho tất cả những việc khác ngoài đi bộ và đường thì đầy xe cộ, chỉ sang đường thôi cũng là một thách thức đầy khó khăn. Nhìn từ góc độ cản trở, chuyển động là những chướng ngại vật cần vượt qua.
NAT: Đây quả là một năm làm việc đầu tiên đầy ý tưởng và tri thức về chuyển động. Chuyển động ngoại biên, ngay cái tên cũng đã gợi ra những suy tư cởi mở và mang tính thử nghiệm từ những nghệ sĩ tham dự đến từ nhiều lối sống, văn hóa và bối cảnh chính trị-xã hội khác nhau. Phản hồi của họ với chủ đề này cực kỳ đa dạng, thường vượt ngoài những gì chúng ta có thể mường tượng lúc đầu, và chúng phản ánh mối quan tâm và khả năng của nghệ thuật theo nhiều cách khác nhau. Một đóng góp quan trọng khác cho MAP đến từ các giám tuyển Moonseok Yi, Jieon Lee và Burkhard Meltzer. Các bài luận của họ là những phản hồi mang tính học thuật và nghiên cứu đối với chủ đề này và cũng được in ở phần sau của sách này.
IV: Đó quả là một khởi đầu hiệu quả cho sự hợp tác của chúng ta và kết quả cũng rất tuyệt vời. Chúng ta không có nhiều kỳ vọng về hình thức này nhưng đã học được rất nhiều từ những gì đạt được. Trong hai năm tới, chúng ta sẽ cố gắng chắt lọc các câu hỏi, mời nghệ sĩ tham dự và tìm kiếm những nhân tố mới. MAP 2024 sẽ tập trung vào chuyển động từ góc nhìn Vận động và MAP 2025 sẽ bàn về Cập bến.
Hà Nội, ngày 6 tháng 12 năm 2023,
Bóc băng: Trần Thu Thảo,
Dịch Anh-Việt: Út Quyên.
Ingo Vetter (IV): Where to begin? Let me try with a brief description. Bringing the well-established artistic format of MAP—Month of Arts Practice—together with a new academic research project in 2023 was the start of a three-year collaboration between Heritage Space Hanoi and University of the Arts Bremen. We decided to develop our focus on the topic of mobility, asking what the term means and how artists deal with it. It seems a pertinent topic for the present, a time where questions of sustainability at the fore.
We started with concrete examples of art projects addressing mobility in mind – for example Allan Sekula’s Fish Story and UuDam Tran Nguyen’s WALTZ of The MACHINE EQUESTRIANS. These are both projects dealing with physical movement of people and commodities. Fish Story documents the movement of goods in a globalized economy by photographically following cargo ships and their crews. WALTZ of The MACHINE EQUESTRIANS is a video work focussing on the motorcycle as the most popular transportation means in Vietnam, so popular that it has become a forming agent of society. We—that being us, me, and you Nguyễn Anh Tuấn—invited artists, researchers, and curators who we thought would be interested in the topic of mobility, or who had already worked with it, to think with us. Although we knew who we were working with, the results were quite different from what we expected.
Now we are almost at the end of the first exhibitions, had a lot of meetings, and a lot of discussions, the focus of the project shifted from the actual moving of things to a general perception of moving.
Nguyễn Anh Tuấn (NAT): Yes, and when we started, we asked our thinking partners to share working proposals with us. The time frame was quite short: it was almost four months of working together, with two months for preparation, and two months for making the artwork. Some of the artists we knew, some we were introduced to. That was a good combination. Our starting point was to consider how we define mobility – and this spanned transportation through to social movement. Migration, and immigration of course are important and right from the start we knew we were interested in all modalities of transformation. Mobility can involve many, many different things but what they all have in common is circulation in communities – be that in a named society, or even across the whole world.
Our group of curators and artists in Hanoi were especially interested in experiments and practice. We wanted to develop a new concept of mobility for the present, one that could be shared and exchanged with others. All the participants knew this was all a part of the bigger academic research project orientated towards sustainability.
IV: The academic context is important: universities are a model situation for bigger communities, and MAP 2023 is part of the wider research project Bremen Goes Sustainable at our university, HfK, that is about real models for mobility – you know, things like sharing systems for cargo bikes or trolleys. It's very practical, very concrete. Our part of the project, MAP 2023, uniquely explores artistic perspectives on mobilities. We are kind of an outpost of the project because we are more in the theoretical and conceptual part, and our results will be on the level of new images and narratives of mobility. Tuấn, we of course thought about the context of mobility in Hanoi and Bremen. Bremen is a harbor city with goods and people and migration that comes in and out, and Hanoi has just so much traffic, unregulated, and all consuming.
NAT: Hanoi is not a small city anymore, it's on the way to being a mega-city both in scale and population. With its current eight million people it has experienced the changes that happen in all big cities – and they are changes characterized by mobility issues. I am interested in the movement of different communities, such as immigrants, laborers, and students. Many of the students here come to Hanoi from rural areas and they try to find the opportunity to stay, expanding the population and with that building new communities in different places around the city. It’s a process that makes the city itself move. The old center of Hanoi is around Hoan Kiem Lake, but the actual center of the city certainly will move in the next five years to another side of the river. The artist Nguyễn Vũ Hải found this a very interesting point: he said that the river changed its course naturally and the center of the city moved along the riverbank with this change.
IV: The relocation of different parts of the city is fast. I was here last year, and I'm here this year, and there are many situations I don't recognize because they changed so much.
NAT: Hải said that when the river moves, it changes the city’s physical structure and landscape, therefore it relocates communities. With a long-term perspective, nothing stands still, and even entire cities move, well other than the central administrative structures which always seem to be fixed.
IV: Hải is also saying something about the time frame in which changes happen. When he describes the movement of the river, he is looking at very long periods of time. His work in the exhibition is about imagining an abandoned urban place where, within four years of the humans leaving, nature takes over. Hải looks from non-human time perspectives. As humans we hardly ever can see for over a century, but the movement of a river goes over millennia.
NAT: Inspired by this, Hải created an artwork in form of an interactive game dealing with the abandoned past of the exhibition room – it is the forgotten building of a train factory. The empty building was the habitat of different animal species for years, and it was then being invaded, and changed, by the return of humans. In the preparatory discussions, Gemini Kim presented us a different approach to industrial facilities: His Invisible Factory Run Project describes the movement of factories from country to country, from province to province. In Vietnam, factories move from one province to another because of changing central government policies, and when they move the worker community must move, creating a system of migration.
IV: What I found so fascinating about Gemini's work was that he took the factory as a living being, as an entity with an agenda. He follows the story of an actual physical building and investigates how it moves from one country to another; how it destroys the neighborhoods where it is active. Gemini does that by running through these places, he connects his body to the body of the factory. When he came to Hanoi, he read a story about the hour of the cat, the Vietnamese colloquial name for the early morning hours.
NAT: Gemini described how he left the house at five in the morning, before sunrise, and rode a bicycle till seven through the city. At 5am it is still very dark, and there are not many people on the street, but at six and seven more and more people come out. They are exercising and doing all kinds of random things. Some are preparing to sell something, and others start going to work. He shows the city as a living body that he tries to wake up, as he tries to rediscover it.
IV: He wore a cat mask and moved around by bike, turning himself into a cat in the cat hour. Like his Invisible Factory Run Project, he connected his body to the body of the city.
NAT: In MAP we had many works that, at first glance, seem to be touching mobility on the fringes. But when you look closely, they all are absolutely dealing with mobility, and in a very different way than we expected. Alexander Noah made an installation with hand-crumpled paper bags where he talked about labor being part of the movement of commodities, and about how the product is far more mobile than the people making it. Of course, this is to do with classical economics and the basic circumstances of globalization. In the installation it was simple paper bags used for bread rolls all over the world that bring these complex economic considerations back to an everyday experience.
IV: Globalization is central to the topic of mobility. Jisu Kim explored this with the double projection where we see her looking at famous artworks confined in a Geneva free trade zone warehouse. They never leave it, but their ownership changes constantly – it’s a phenomenon which comes from global tax rules. The projected movie shows a closeup of her eye and, in the reflection on her pupil, you see the artworks. She is looking at the inventory of the free trade zone warehouse on her computer screen. As an artist, she puts herself in relation to this system of global transactions.
NAT: The book Renen made and sent to Hanoi comes from a similar place: he titled it I cannot stop worrying about the workings of the art market. Art has a material identity, but its value is something different once it is circulated and exchanged outside of the agency of either the artist or the art object. In Vietnamese society art is kind of an invaluable thing, it sits outside of this kind of valuation – those measures are supplied by other markets that are based in Singapore, Hong Kong, Europe, or the United States. When we're talking about the art market in Vietnam, we're talking about something that is outside of value systems.
IV: Renen just finished his study; Jisu is still a student. Both are thinking about what their connection to this kind of international art market is.
NAT: Yuhei Higashikata’s work addresses import-export activity, physical and digital realm. The starting point is a banana from a Hanoi street market and how this fruit is sent across territories. In Japan bananas are not cultivated and they are usually imported from the Philippines, and most come from a single company that can fulfill Japanese food standards. In Vietnam, when we buy bananas on the market or the street, there are three or four different sizes, and the tastes are all different. But when you go to the supermarkets, all bananas are the same. This standardization makes only one kind of banana available. Bringing the small scale, locally grown and non-standardised Vietnamese banana to Japan is only possible via detours. Yuhei Higashikata started with scanning the banana in 3D. Then the 3D-scan was emailed to Japan and there it was 3D-printed in original size.
IV: In Bremen we presented the video showing the process of scanning and printing the banana. In Hanoi you also presented this big-scale banner with a self-portrait of the artist wearing a banana shirt. Some of the bananas had been cut out of the banner and were lying on the floor, among bags of dried bananas. One comes to the other, changes shape and matter.
NAT: A work that we presented both in Hanoi and in Bremen was Sylbee Kim's Body off Coordinates. She is herself living between Berlin and Seoul and moves back and forth every six months.
IV: She explores how can we talk about migration or home without defining a person as being either a migrant, a foreigner, or as a person who belongs. Sylbee tries to get over those gaps to find a common ground to talk about where we all came from. She explains how in all complex migration histories there is always a kind of fragmentation, and she proposes a way to talk to each other in a safe space, a utopia. Her performers are learning each other’s comfort-songs in mother tongues, and they create an experience for a person that transports you to another place without you moving at all. That's very interesting because it jumps over physical movement and goes directly to experience. In the exhibition she built a realm from props – there is rope, fragments, sticks, incense sticks. They create a temple-like realm for the songs, which you can follow on an edited performance video.
NAT: I think Sylbee’s concept is a bringing together of body, mind, and spirit – I mean, maybe they go together but they have different journeys. The idea of a universal language is established.
IV: I don't know if it is universal.
NAT: When we listen to an old song being sung in a mother tongue, even if we cannot get an idea what the words mean, we will recognize the melodies. It creates the feeling of moving, the feeling of someplace that we have not known, with an understanding.
IV: Quỳnh Lâm, on the other hand, deals with the river Weser – this is the water where the exhibition ship in Bremen is located – and the ship as a place itself. Quỳnh is a refugee of COVID – the pandemic restricted her movements, and she was stranded. What she does in this new place, on the exhibition ship, is measure the space, make it her own, and inhabit it. With basic performance tools, she makes a temporary space of her own, and then moves on. She's as fluid as the river.
NAT: Measuring is also a topic in Ngô Đình Bảo Châu's work with the pendulum. She created a video with a duration of 27 minutes to reflect the time she used to travel from her home to studio, from one side of the Red River, over Long Biên Bridge, to the other side. The video repeats in a loop, as a continuation of lifetime spent. In eastern understanding, time is understood as circulation, and it is made permanent by repetition.
IV: The two works that dealt with the experience of time and movement are Akosua Viktoria Adu-Sanyah's performance in the Hanoi exhibition space and in Sarah Morag’s contribution. Akosua is talking about somatic exercises or, as she calls them, ‘generic somatics.’
NAT: Akosua started with personal stories. She recounted how her father became blind two years ago and had to deal with the dark, and with renewed expectations that came with this change of senses. During the COVID time, because of being blind, he was left in the airport in his hometown on the way to try to return to Europe. Interestingly, Akosua wanted to work with the experiences of distance in the dark, you know that feeling when you cannot recognize where you are or recognize anything around you. When she first came to Hanoi, she was surprised by the speed of the city and by the unregulated transportation on the streets. Then in contrast, when she visited the exhibition space in the factory, she felt that it looked like a prison because of the very thick walls of the interior of the architecture. She turned the space into a studio. The floors are quite dangerous because they're full of holes and there are all kinds of things on the floor, so you have to walk carefully. What she did was ask people to walk blindly through the room, and that was quite a challenge. You had to pay attention to the room's scale, it is a wake up to your senses. Every participant reacted very differently, revealing the personality of each person. Some people are super slow. They were asked to draw a line and it reflects somehow the rhythm of their heart – you know when you fear getting lost, or when you feel unconfident, you feel insecure, you can show it by drawing.
IV: So, you drew while you moved?
NAT: Right. So, we had to stand on one side, and Akosua would stand on the other side. And we took the paper with the pencil, and when we walked, we drew. As we walked, we tried to trace the movement. Some people, they're very confident and they cover the distance in a short time. But others need two or three times longer. She captured the moment with a camera on a long-exposure and some protagonists were almost invisible – the long time-exposure only captures immobile or slow walking bodies while fast-walkers are shadows. To me, it's dealing with both time and distance and movement inside and outside the body.
IV: And Sarah Morag?
NAT: During COVID she was stuck at home and stuck in her thinking. For many artists the pandemic was a time of rethinking strategies and familiar procedures, finding new approaches and artistic practices to get out of this dead end of isolation.
When she first came to Hanoi, Sarah sent us a proposal to work with a kite as a representation of the freedom from the darkness inside. It's a way to engage with nature and community. A traditional thing to do in Vietnam is let the kite fly, and people will gather around. It represents the dream and the way to carry on hope. Sarah wanted to find a way to escape from the traumatized COVID experience. When she came to the Hanoi exhibition space, she opted for a very small room like a cell, like a prison cell, and here she put the kite in it. For Sarah, the kite is on the ground and then it soars high. In Vietnamese culture the kite is a way to connect heaven and earth. And through this you understand the hope, success, and freedom of that movement in the conceptual language, but it's not in the way of transportation, in a way of moving from one point to another.
IV: For her, it's not mobility, I mean the kite is not mobile, the kite is always static, in comparison to the sail or the parachute, the kite stays...
NAT: . . . the kite stays because you have to hold on to it.
IV: We had a similar discussion with Jamie Yzabel Santos, who installed a crocheted paraglider in the Bremen exhibition, which is also kind of a kite. Kites move in the wind, but they are very static at the same time – you look from a fixed position. High-tech paragliders are used as fuel-saving sails for modern cargo vessels. Cargo ships are not built to have sails, so the kite is the only solution where you can add something to an existing construction. Jamie describes that as a kind of a nostalgic moment or almost a longing – to let a kite fly and offer a solution for a green capitalism on a symbolic level. For her, the future has something very nostalgic.
NAT: It might be the future of transportation, to combine something profane as cargo shipping with higher goals. Capitalism has never been a rational endeavor. The other work with movement was the swimmer, the Breman, made by Mohar Kalra. This is a figure that moves with the tides. As Bremen is close to the sea, when the tide reaches the city and changes the flow direction of the river Weser.
IV: It's a very poetic small work. The Breman is like Sisyphus – trying to swim against the tide. Like the kites, it has a static fixed point and moves around with the forces of the river and the wind.
NAT: Felix Dreesen more obviously deals with motives of transportation and traffic. You know, he did that right from the moment he walked out of the airplane and took a picture of a mosaic depicting highways, airplanes, and bridges at the Noi Bai International Airport. This form of representation attracted him and as he continued walking and bicycling around Hanoi he searched for more murals and wall decorations about the topic. These he photographed and gathered in an artist book, with a design combining eastern and western book binding traditions. You can read it in both directions, unfold and recombine pages just like his journeys, his dérive in the city: you walk on the streets, you make a turn and see something, which connects to something else in the next second. The action of reading the book is like the action of walking on the streets. It reflects very well the concept of mobility, both conceptually and physically.
IV: I appreciate that he is focusing on just one topic. He says: I'm new here, I don't know this place, what can I say? He takes photographs of already existing images. So, he's not trying to do photos of situations, he's taking photos of murals, so of pre-existing artistic thought. By documenting these ideas, he tells us about a Vietnamese perception of mobility and his own story of movement again. It's very nice, it's very modest.
NAT: His work represents the feeling of a maze to me, of amazement. You have many turns, many choices in many directions. This is also the case in the installation of Ngô Đình Bảo Châu who filled the entrance space of the Hanoi exhibition with wall and floor drawings as well as an extended arrangement of sculptural elements. In the beginning of the project she thought she would like to make a playground. During the pandemic, she got stuck at home, and began to see her home as a playground, and her daughter played there every day. She wanted to transfer to the exhibition this mind opening energy of play by proposing a different kind of playground for the visitors.
IV: When I entered the Hanoi exhibition space for the first time, I tried to understand the architecture of the former train factory and the purpose of those ditches on the floor or niches in the walls. You assume that everything in a factory has to be super-rational. Finding a playground here establishes a different behavior and reasoning. Play as the possibility to escape the dead end of abandoned buildings.
Then we have Hwayong Kim. She made a book with a very profound story.
NAT: She's based in metropolitan Seoul and the very touristy island of Jeju. She's interested in the concept of maps, and artistically used them for a work about traditional salt production at the lowlands of Jeju. Then when she came to Vietnam, she traveled to the national park of Cat Ba, also a lowland close to the shore. But here, mangroves cover the area and in distinction they prevent the coast from getting salty. She produced an artist book that is a poetic journey of salt.
IV: I found it fascinating how she talks about the extraction and our usage of salt and then takes the visitor on a complex journey through Korean and Vietnamese history, exploring the development of places, politics and colonialism and finally ending in outer space, on the planet Mars.
NAT: To Mars, to the future! I think somehow, her entire project is about thinking for the future.
IV: This work opens the very idea of the mobility of things, goods, commodities, and people. And this is a fantastic journey she takes you on as the audience. In a similar way Kayle Brandon invites you to follow a journey when she talks about the origins of different sugars and the production of rum within the slave trade triangle between UK, Western Africa, and the Caribbean islands. She describes the journey as a body and is concerned with the fragmented history of the families who experienced slavery and returns different threads into one body again, a body of different experience, different origins, different stories. She takes different sugars and molasses and mixes a wash to ferment alcohol, which she wants to distill at the end of the exhibition. It’s an alchemic process to address fragmented stories of colonization, slavery, the families behind it. Kayle comes from Bristol, the main British harbor for the trade of sugar and rum from the Caribbean during the British colonial rule. The colonial history is the background of her own family, who came to Britain from the sugar cane fields of Jamaica.
NAT: Nguyễn Hoàng Anh’s background is in contemporary dance, theater and performing arts and his whole practice is based on movement. During his time in Hanoi, he said that the more he explored the meaning of mobility, the less he wanted to move physically to realize his work. Instead, he wanted to approach a state of floating, of imbalance. In the video you see a dark and dim place, the artist vaguely in the background releasing a smoke ring, which comes towards the camera and materializes in the light of the foreground. It is an undetermined gesture and thought remains floating.
IV: Many of the artists talk about mobility as a privilege.
NAT: Yes, Akosua mentioned the privilege of coming to Hanoi, and she tried to get out of the touristic mindset by engaging with the city, getting up early and experiencing its awakening, moving around and really trying to understand the place. Akosua also mentioned that she was amazed to never see people in wheelchairs here on the street.
IV: Nguyễn Vũ Hải presented a previous video work in the preparatory meetings, where they were walking Hanoi with six people, three of them in wheelchairs and just trying to pass through a neighborhood. As the sidewalks are used for anything other than walking and the roads are full of dense traffic, this is an endeavor full of difficulties. Thinking from the perspective of restraints, mobility is about obstacles to overcome.
NAT: It was an enriching first year working on ideas and understandings of mobility. Alternative Mobility, by its name, evokes open and experimental thinking from the participating artists, who come from various countries with different lifestyles, cultures, political and social contexts. Their responses to the topic are extremely diverse, often beyond what we imagined at the beginning of the project, and they reflect the interest and capacity of art in many ways. An important input to MAP 2023 came from our three guest curators Moonseok Yi, Jieon Lee and Burkhard Meltzer. Their essays are scholarly and research responses to the topic follow here in this publication.
IV: It was a very fruitful start to our collaboration with fantastic results. We had not expected many things in this form and learnt a lot from the results. For the next two years, we will refine the questions, invite participating artists again and recruit new ones. MAP 2024 will focus on mobility from the perspective of Movement and for MAP 2025 we will look at Arrival.
Hanoi, 6 December 2023,
Transcribed by Trần Thị Thu Thảo.